Chào mừng quý vị đến với website của ...

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

khái niệm về loài

0.Chim_va_hoa.jpg
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Quỳnh Nhi (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:19' 04-09-2009
Dung lượng: 363.9 KB
Số lượt tải: 3
Mô tả: LoàiBách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếmTheo nghĩa rộng, loài là một nhóm các cá thể sinh vật mà có những đặc điểm sinh học tương đối giống nhau và có khả năng giao phối với nhau. Còn theo định nghĩa của Ernst Mayr, loài là nhóm các quần thể tự nhiên có khả năng giao phối với nhau và tương đối cách ly sinh sản với các nhóm khác. (xem thêm phần định nghĩa loài ở dưới.Trong phân loại khoa học, một loài được gọi tên bằng danh pháp 2 phần, in nghiêng, chữ thứ nhất là tên chi được viết hoa, chữ thứ hai chỉ một đặc điểm nổi bật của loài, có thể kèm theo tên người phát hiện và/hoặc đặt tên loài. Ví dụ, tên khoa học của loài ngườiHomo sapiens: Homo là tên chi, sapiens chỉ đặc điểm "khôn ngoan" của loài người.Một loài bất kỳ thì thường viết tắt là "sp." còn số nhiều là "spp.".Loài hoang dãBách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếmLoài hoang dã (Wildlife) là nói đến các loài động thực vật và các sinh vật khác sống trong tự nhiên và chưa được thuần hóa.Loài thuần hóa (Domesticated species) là những loài đã được làm thích ứng bởi con người qua nhiều thế hệ, nhằm phục vụ một mục đích nào đó của con người. Việc thuần hoá các loài động thực vật hoang dã của con người đã có từ rất lâu trên trái đất và có một tác động quan trọng đến môi trường, cả hướng tích cực lẫn tiêu cực.Loài hoang dã sống ở khắp nơi, trong các hệ sinh thái. Sa mạc, đồng bằng, băng cực và cả những khu dân cư đông đúc nhất vẫn có các loài sống hoang dã. Nhưng các hệ sinh thái khác nhau sẽ có mức độ đa dạng loài khác nhau. Tuy khái niệm Loài hoang dã là nói đến các loài không chịu sự tác động của con người, nhưng hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng, các loài hoang dã ngày nay đang sống trên khắp trái đất đều chịu một sự tác động với một mức nhất định nào đó bởi các hoạt động của con người.
Mục lục[xem]
[sửa] Bảo tồn loài hoang dãTại nhiều nước trên thế giới, các Khu bảo tồn (Preserves), Khu được bảo vệ (Protected areas) hoặc các Vườn quốc gia (National Park) đã được thiết lập để bảo vệ các loài hoang dã cũng như bảo vệ môi trường sống tự nhiên của chúng. Các khu bảo tồn này được phân theo cấp độ quốc gia hoặc cấp độ quốc tế (được công nhận bởi UNESCO).[sửa] Hình thức bảo tồnViệc bảo tồn các loài hoang dã được thực hiện dưới hai hình thức phổ biến là Bảo tồn tại chỗ (In-situ conservation) và Bảo tồn ngoại vi (ex-situ conservation).[sửa] Bảo tồn tại chỗBảo tồn tại chỗ được hiểu là quá trình bảo tồn một loài nào đó tại nơi cư trú tự nhiên của nó (on-site conservation), bao gồm việc bảo vệ khu vực sinh sống từ các tác động bên ngoài hoặc bảo vệ loài này khỏi các loài săn mồi. Lợi ích việc bảo tồn tại chỗ là duy trì được sự tái lập các quần thể ở tại nơi mà chúng đã phát triển các đặc điểm riêng biệt của chúng.Bảo tồn các loài hoang dã được chủ yếu dựa vào công tác bảo tồn tại chỗ. Việc này đi liền với việc bảo vệ nơi cư trúc của các loài hoang dã. Và như vậy phải duy trì các khu bảo tồn đủ lớn để loài được bảo tồn có thể tồn tại với số lượng lớn. Kích thước quần thể phải đủ lớn để có thể duy trì sự đa dạng gen cần thiết cho việc tiếp tục thích nghi và tiến hoá của quần thể, duy trì sự sống còn của loài. Kích thước khu vực bảo tổn có thể xác định dựa trên mật độ quần thể trong điều kiện xuất hiện tự nhiên.Bảo tồn ngoại vi là kế sách cuối cùng được dùng đối với một số hoặc tất cả quần thể, khi mà việc bảo tồn tại chỗ trở nên quá khó hoặc bất khả thi.[sửa] Bảo tồn ngoại viBảo tồn ngoại vi, trên lý thuyết, là quá trình bảo tồn ở bên ngoài nơi cư trú tự nhiên của một loài nào đó (of-site conservation). Đây là quá trình bảo vệ một loài nguy cấp bằng cách chuyển một phần quần thể từ nơi cư trú bị đe dọa và đưa đến một chỗ mới, có thể là một khu vực hoang dã hoặc một khu vực có sự chăm sóc của con người. Bảo tồn ngoại vi bao gồm cả những phương pháp cổ điển và phổ biến nhất như các vườn thú, các trang trại bảo tồn, ... nó cũng bao gồm các phương pháp mới và hiện đại nhất như các phương pháp nuôi cấy, lưu trữ gen trong phòng thí nghiệm.Lâm nghiệpBách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếmRừng cây sồi tại SloveniaLâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy các chức năng phòng hộ văn hóa, xã hội,... của rừng.
Mục lục[xem]
[sửa] Khái niệm lâm nghiệpĐể đi đến khái niệm về ngành Lâm nghiệp, trên thực tế đã có nhiều quan điểm:·         Quan điểm thứ nhất: Cho rằng lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. ·         Quan điểm thứ hai: Cho rằng lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt không chỉ có chức năng xây dựng, quản lý, bảo vệ rừng mà còn có chức năng khai thác sử dụng rừng. ·         Quan điểm thứ ba: Xuất phát từ thực trạng quản lý ngành lâm nghiệp và đứng trên giác độ khép kín của quá trình tái sản xuất thì lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất ngoài chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác vận chuyển và chế biến lâm sản. [sửa] Lịch sửNgay từ buổi đầu bình minh của lịch sử, con người đã lấy từ rừng các thức ăn chất đốt, vật liệu phục vụ cuộc sống, rừng được coi là cái nôi sinh ra và là môi trường sống của con người. Đến thế kỷ 17, hệ thống quản lý rừng được ra đời tại châu Âu, đánh dấu một xu hướng mới trong việc khai thác tái tạo tài nguyên rừng. Khai thác, lợi dụng và tái tạo tài nguyên rừng ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội luôn đòi hỏi phải có hệ thống quản lý rừng thích hợp. Hai quá trình này phát triển ngày càng cao và dần dần hình thành ngành Lâm nghiệp. Ngành Lâm nghiệp ra đời ngày càng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Như vậy Lâm nghiệp ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội đối với rừng và vai trò của xã hội đối với rừng thông qua chức năng quản lý, gìn giữ và phát triển rừng.[sửa] Vai tròLâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Nói đến lâm nghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội. Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng có ghi "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc". Có thể tóm tắt một số vai trò chủ yếu sau:[sửa] Vai trò cung cấp·         Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội, trước hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ. ·         Cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư. ·         Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản. ·         Cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người. ·         Cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm...phục vụ nhu cầu đời sống xã hội... [sửa] Vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái·         Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện. ·         Phòng hộ ven biển, chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn...bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển... ·         Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển. ·         Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất... ·         Bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch... ·         Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm. [sửa] Vai trò xã hộiLà nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội...Phân loại thảm thực vật rừng ở Việt NamBách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếm
Mục lục[xem]
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Vì vậy sử dụng rừng hợp lý là rất cấp thiết để bảo tồn nguồn tài nguyên này. Trong kinh doanh rừng, nghiên cứu về rừng thì phân loại rừng là hướng đi hiệu quả. Công tác phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam thực sự mới được tiến hành khi người Pháp tiến hành khai thác thuộc địa (Việt Nam).[sửa] Lịch sử phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam·         Năm 1918, nhà bác học Pháp, Chevalier là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới). Theo bảng phân loại này, rừng ở miền Bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu. ·         Năm 1943, kỹ sư lâm học người Pháp, Maurand đã chia Đông Dương thành 3 vùng thảm thực vật: ·         Thảm thực vật Bắc Đông Dương. ·        
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến